HỘ, HÔN, ĐIỀN, THỔ VẠN CỔ CHI THÙ

                                                                          

Dịch nghĩa:

Hộ      :         nhà cửa

Hôn    :         hôn nhân

Điền   :         ruộng, đồng

Thổ    :         đất đai, vườn tược

Hôn nhân điền thổ ... hận muôn đời.

Giải thích:

Xưa nay, chuyện vợ lớn, vợ nhỏ, chính thất, tiểu tam, và chuyện tranh chấp đất đai nhà cửa ruộng vườn … luôn để lại mối oán hận lâu đời, thâm thù truyền kiếp.

Nếu cứ cố chấp rồi ôm mối hận trong lòng mãi không phai thì không khác gì tự ngậm thuốc độc hủy hoại bản thân.

Người sáng suốt biết buông bỏ, hóa giải sẽ được thanh thản sống yên vui hưởng thái bình.

Việc là:

Có chị bị chồng cắm sừng rồi chồng đưa Đơn ra Tòa đòi bỏ vợ, bỏ con cho vợ nuôi để rảnh rang xây dựng hạnh phúc gia đình mới. Chị uất & hận chồng & tiểu tam nhiều lắm nên chị bảo: dứt khoát chị không bỏ để không cho chúng cơ hội dễ dàng đến với nhau hạnh phúc.

Có chị cũng bị chồng cắm sừng nhưng chồng này & tiểu tam này "cao thủ" ở chỗ là chúng cứ trêu ngươi, chọc tức chị bằng đủ mọi cách, cốt làm chị uất ức, tức giận, tổn hại tinh thần, không làm được gì ra hồn, khiến chị không chịu được thì phải tự đưa Đơn ra Tòa đòi bỏ chồng để tự giải thoát cho bản thân khỏi nỗi sầu nhân tình thế thái.

Ân oán tình thù quả là rất phức tạp nhưng đáo tụng đình còn phức tạp hơn. Để áp dụng triệt để những quy định của pháp luật cụ thể như dưới đây thì việc thu thập, cung cấp & đánh giá chứng cứ vô cùng tốn kém, cực nhọc và phức tạp. Tính khả thi rất thấp của luật trong trường hợp này. Bởi pháp luật còn những hạn chế khiến hành vi ngoại tình không bị quốc pháp nghiêm trị, mất niềm tin nên thỉnh thoảng người trong cuộc tự xử bằng cách cứ đánh ghen ồn ào.

Pháp luật hiện hành có những quy định sau đây:

* Từ ngày 01/9/2020, Nghị định 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

* Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

NHƯNG không phải cứ “ngoại tình” dẫn đến ly hôn là sẽ bị phạt tù.

Pháp luật quy định chỉ phạt tù những người đang có vợ/chồng mà chung sống như vợ, chồng với người khác hoặc ngược lại, có hành vi “kết hôn” hoặc “chung sống như vợ chồng” với người khác và những hành vi này đã gây ra một trong các hậu quả quy định tại Điều 182 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC định nghĩa:

Chung sống như vợ, chồng” là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...

Điểm d Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 quy định:

 Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Cha mẹ khi ly hôn nếu không thỏa thuận được về quyền nuôi con thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Trường hợp một trong hai bên (bố hoặc mẹ) ngoại tình thì đây có thể được xem là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét việc không giao quyền nuôi con cho bên có lỗi.

Ví dụ: Khi Thẩm phán phân xử về quyền nuôi con, có bằng chứng cho thấy người bố vì ngoại tình mà bỏ bê con cái, thường xuyên vắng nhà, không quan tâm đến con .... thì đây có thể là một căn cứ để xem xét không giao quyền nuôi con cho người bố.

Tuy nhiên mọi sự đã ra chốn Công đường thì Tòa vẫn xử ở một mức độ hợp lý nào đó.