1. Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

b) Lợi ích phi vật chất.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

3. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt từ tù 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

6. Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự TỘI ĐƯA HỐI LỘ được quy định tại Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

TỘI ĐƯA HỐI LỘ xâm hại đến quan hệ xã hội bảo đảm cho uy tín và hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài Nhà nước. Như vậy, việc đưa hối lộ đối với các chủ thể có chức vụ, quyền hạn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước cũng đã bị cấm bởi luật hình sự, cho thấy việc bảo đảm uy tín và hoạt động của các đơn vị ngoài Nhà nước đã thực sự được nhìn nhận nghiêm túc và đúng tầm.

Đối tượng tác động của tội phạm theo Bộ luật Hình sự năm 2015 không chỉ là hoạt động thực hiện công vụ của người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực Nhà nước mà cả hoạt động thực hiện nhiệm vụ của người có chức vụ, quyền hạn ở khu vực ngoài Nhà nước cũng như hoạt động đó của công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công.

Mặt khách quan của tội đưa hối lộ đòi hỏi phải có hành vi đưa lợi ích một cách bất chính cho người có chức vụ, quyền hạn. Hành vi đưa hối lộ có thể diễn ra trước hoặc sau khi người có chức vụ, quyền hạn làm theo yêu cầu của người đưa.

Đối với trường hợp đưa của hối lộ sau khi người có chức vụ, quyền hạn làm theo yêu cầu của người đưa, giữa người nhận và người đưa phải có sự thỏa thuận về của hối lộ và việc làm hoặc không làm vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa.

Hành vi đưa hối lộ có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua trung gian.

Của hối lộ có thể được thụ hưởng bởi chính người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác, tổ chức khác, theo ý chí của người có chức vụ, quyền hạn.

Của hối lộ có thể là các lợi ích vật chất như tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc có thể là lợi ích phi vật chất như phân tích ở Tội nhận hối lộ.

Người đưa hối lộ có thể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào như nấp dưới danh nghĩa tặng quà sinh nhật, viếng đám ma, thăm hỏi ốm đau.

Hành vi đưa hối lộ chỉ cấu thành tội phạm khi của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2 triệu đồng trở lên. Đối với trường hợp đưa lợi ích phi vật chất, việc xác định giá trị của lợi ích không có tính bắt buộc.

Chủ thể của Tội đưa hối lộ là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt tuổi luật định.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 4 khung hình phạt.

- Khung 1. Khung cơ bản, có mức phạt là phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

- Khung 2. Khung tăng nặng, có mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, được áp dụng trong trường hợp có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

+ Phạm tội có tổ chức;

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

+ Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Phạm tội 2 lần trở lên;

+ Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác có giá trị từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

- Khung 3. Khung tăng nặng, có mức phạt tù từ 7 năm đến 12 năm, được áp dụng trong trường hợp của hối lộ có trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng.

- Khung 4. Khung tăng nặng, có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, được áp dụng trong trường hợp của hối lộ có trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên.

- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Đối với hành vi đưa hối lộ, nhà làm luật còn quy định những biện pháp quan hồng liên quan đến xác định trách nhiệm hình sự, trong đó thể hiện rõ nét nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Đó là việc quy định những điều kiện xác định vô tội đối với hành vi đưa hối lộ và những điều kiện miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đưa hối lộ tại điều 364 khoản 7 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Người bị ép buộc tội đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ, tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ”.

Trước hết, để đảm đảm bảo chính sách hình sự khoan hồng đối với người do bị ép buộc phải đưa hối lộ, luật Hình sự Việt Nam đã quy định việc xác định vô tội đối với những trường hợp đưa hối lộ thỏa mãn 2 điều kiện:

- Thứ nhất: Việc đưa hối lộ không xuất phát từ ý muốn của người đưa mà do bị ép buộc. Nếu liên hệ thái độ chủ quan của người đưa hối lộ trong hoàn cảnh này với lý luận về lỗi trong luật Hình sự Việt Nam thì có thể thấy người này có mức độ lỗi rất nhẹ.

- Thứ hai: Người đưa hối lộ đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác. Điều này có nghĩa là chủ thể đưa hối lộ đã tự quyết định khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi đưa hối lộ của mình cũng như về hành vi nhận hối lộ của người có chức vụ, quyền hạn mà không chịu bất kỳ 1 áp lực nào từ phía người khác.

Kết hợp hai điều kiện nêu trên có thể thấy trường hợp đưa hối lộ này đã chứa đựng những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Vì vậy, hành vi được xem là vô tội.

Quy định này đặc biệt có ý nghĩa trong việc thực hiện chính sách hình sự đối với các tội phạm hối lộ vì nó góp phần thúc đẩy việc phát hiện sớm và xử lý được các vụ phạm tội hối lộ cũng như hành vi nhận hối lộ của người có chức vụ, quyền hạn. Tuy nhiên cần lưu ý quy định về miễn trách nhiệm hình sự là quy định tùy nghi và Tòa án có thể áp dụng hoặc không tùy trường hợp phạm tội cụ thể.