1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.

Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự TỘI NHẬN HỐI LỘ được quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

TỘI NHẬN HỐI LỘ xâm phạm quan hệ xã hội bảo đảm uy tín và tính vô tư,  chính trực của hoạt động thực hiện công vụ, nhiệm vụ. Đối tượng tác động của tội phạm chính là hoạt động thực hiện công vụ, nhiệm vụ của người có chức vụ, quyền hạn.

Chủ thể của tội nhận hối lộ theo luật định chỉ có thể là người có chức vụ, quyền hạn. Tuy nhiên, không phải người có chức vụ, quyền hạn nào cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm này. Chủ thể tội phạm của tội nhận hối lộ theo điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 đòi hỏi dấu hiệu “để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ”. Vì vậy, chủ thể của tội phạm này phải là người với chức vụ, quyền hạn của mình có thể thực hiện được việc làm hoặc không làm mà người đưa hối lộ yêu cầu.

Ví dụ: Thủ trưởng một Cơ quan điều tra có thẩm quyền ký Quyết định khởi tố bị can. Nhưng có người đề nghị “ông sẽ được nhận ... khi ông không ký Quyết định khởi tố bị can”.

Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền ký phê chuẩn Lệnh bắt người để tạm giam của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cùng cấp. Nhưng có người đề nghị “anh sẽ được nhận ... khi ông không ký Quyết định phê chuẩn Lệnh bắt người để tạm giam”.  

Ngay sau khi Thẩm phán được phân công thụ lý Vụ án, có người qua anh em bạn bè đã tìm đến, họ nói khích rằng "biết tiếng anh là người công bằng luôn bênh vực lẽ phải, lại có chuyên môn giỏi nên xét xử không oan sai" và cuối cùng là gửi thông điệp "Nga bị oan, nhờ anh quan tâm". Nghiên cứu Đơn kháng cáo và toàn bộ Hồ sơ đọc từng bút lục rồi đọc các bài báo bênh vực bị cáo, thẩm phán thấy Án Sơ thẩm xử đúng. Trước ngày xét xử, qua giới thiệu của những người thân quen với Tòa án mà không thể từ chối, có người đến gặp thẩm phán đặt vấn đề cụ thể: Bản án Phúc thẩm sắp tới không dám xin anh xử Nga không phạm tội mà chỉ xin anh cho hủy Án Sơ thẩm để điều tra bổ sung. Chúng tôi xin gửi anh ... Phiên tòa diễn ra trong sự bảo vệ chặt chẽ với một không khí hết sức nghiêm trọng. Từng nội dung kháng cáo được làm rõ. Cuối cùng, thẩm phán, chủ tọa phiên tòa tuyên án, kết luận Bản án Sơ thẩm xử đúng, bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án Sơ thẩm. Nhiều bài báo dài kỳ viết về bị cáo. Đọc lại những trang viết này, thẩm phán thấy tác giả đưa cả chi tiết chạy án ... vào bài viết. Thế ra họ biết cả dù chính ông chưa hề tiết lộ chi tiết này với báo chí.

Theo quy định được bổ sung tại điều 354 khoản 6, chủ thể của tội nhận hối lộ còn có thể là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Đó là những người làm công tác quản lý từ cấp cao nhất tới cấp thấp nhất hoặc những người tuy không có chức vụ nhưng được giao nhiệm vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức này và nhiệm vụ đó làm phát sinh quyền của họ đối với người khác.

Ví dụ: Kiểm toán viên của Công ty kiểm toán; cán bộ ngân hàng.

Mặt khách quan của tội nhận hối lộ được đặc trưng bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào.

Như vậy, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi nhận “của hối lộ” bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là sử dụng chức vụ, quyền hạn vào việc thực hiện tội phạm.

- Lợi dụng chức vụ tức là lợi dụng chức danh công tác, chức trách hoặc quyền hạn được giao.

- Lợi dụng quyền hạn là lợi dụng quyền năng cụ thể được giao do có chức vụ hoặc do một căn cứ khác.

Chính nhờ có chức vụ, quyền hạn, chủ thể mới có khả năng giải quyết được việc người khác đang mong muốn và người có việc đưa hối lộ cho người có chức vụ,  quyền hạn cũng vì chủ thể có khả năng này.

Như vậy, hành vi nhận hối lộ chỉ có thể được thực hiện trong mối quan hệ với chức năng, quyền hạn của chủ thể. Chỉ thông qua thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn chủ thể mới có thể nhận lợi ích vật chất để làm hoặc không làm việc mà người đưa hối lộ yêu cầu.

Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ theo quy định của điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể được diễn giải bao gồm hai khả năng (hai dạng) hành vi được thực hiện:

(1) - Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ để làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

(2) - Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ sau khi (do đã) thực hiện việc làm hay không làm theo thỏa thuận với người đưa hối lộ.

Như vậy, việc nhận của hối lộ có thể được thực hiện trước hoặc thực hiện sau khi người có chức vụ, quyền hạn đã làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Trong cả hai trường hợp nhận hối lộ đó, chủ thể đều phải thỏa thuận trước với người đưa hối lộ về việc làm hoặc không làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Đối với trường hợp “nhận của hối lộ sau”, sự thỏa thuận trước còn bao gồm cả thỏa thuận về việc chủ thể sẽ được nhận của hối lộ sau khi đã thỏa mãn yêu cầu của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, không đòi hỏi phải thỏa thuận trước về giá trị hoặc tính chất của loại lợi ích đó. Thỏa thuận có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như bằng lời nói, thỏa thuận miệng, bằng văn bản, bằng cách đưa ra các ám hiệu,  ký hiệu các bên cùng hiểu hoặc những thỏa thuận ngầm. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, những thỏa thuận đó đều phải thể hiện rõ việc đồng ý làm hay không làm một việc cụ thể theo yêu cầu của người đưa hối lộ từ phía người nhận hối lộ. Thỏa thuận trái pháp luật này thông thường là kết quả của sự bàn bạc thống nhất giữa các bên nhưng trong một số trường hợp có thể hình thành không dựa trên cơ sở tự nguyện của hai bên mà do sự áp đặt ý chí của một bên như trường hợp đòi hối lộ, sách nhiễu quy định tại khoản 2 điểm g: Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.

Hành vi nhận hối lộ có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua trung gian.

Nhận hối lộ trực tiếp là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp nhận của khối lộ từ người đưa hối lộ không qua người khác.

Ví dụ: nhận tiền hối lộ từ tay người đưa hối lộ.

Nhận của hối lộ trực tiếp có thể được thực hiện thông qua các loại hình dịch vụ.

Ví dụ: Dịch vụ chuyển tiền của ngân hàng, chuyển hàng hóa qua bưu điện.

Nhận hối lộ trực tiếp còn có thể là trường hợp tuy chưa nhận của hối lộ xong người có chức vụ, quyền hạn đã trực tiếp thỏa thuận với người đưa hối lộ thông qua gặp mặt hoặc trao đổi qua điện thoại, thư điện tử, v.v

Nhận hối lộ qua trung gian là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn gián tiếp nhận của hối lộ từ người đưa hối lộ thông qua người khác.

Ví dụ: Qua người môi giới hối lộ.

Đó cũng có thể là trường hợp người nhận thỏa thuận việc hối lộ với người đưa và nhận của hối lộ qua người môi giới hối lộ.

Hành vi nhận của hối lộ có thể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào. Điều đó có nghĩa là hành vi nhận của hối lộ không chỉ là việc nhận tiền hay lợi ích vật chất một cách thuần túy theo kiểu trao tay. Các hình thức nhận hối lộ khác dù được che đậy dưới vỏ bọc hợp pháp như việc nhận các khoản thưởng hoặc tiền thù lao thực chất không chính đáng, việc nhận lợi ích vật chất bất chính thông qua các hình thức Hợp đồng như Hợp đồng vay tiền nhưng sau đó không hoàn trả; Hợp đồng bán tài sản với giá cao hơn hoặc mua tài sản với giá trị thấp hơn giá trị thực tế của tài sản hoặc qua các loại hình dịch vụ không phải trả chi phí, v.v... đều bị coi là tội phạm.

Dấu hiệu pháp lý đặc trưng tiếp theo trong mặt khách quan của tội nhận hối lộ là dấu hiệu “của hối lộ”. Để bảo đảm tính tương thích với quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, pháp luật Hình sự Việt Nam đã mở rộng khái niệm “của hối lộ”. Theo đó, không chỉ là các loại lợi ích vật chất mà còn có cả lợi ích phi vật chất.

Cụ thể, điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “của hối lộ” là bất kỳ lợi ích nào bao gồm tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác và lợi ích phi vật chất.

Theo quan điểm của pháp luật Hình sự Việt Nam, các loại “của hối lộ” đó có thể tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào.

Ví dụ: tiền, đồ vật có giá trị, suất đi nghỉ dưỡng, vé đi du lịch, dịch vụ sửa chữa không phải trả chi phí, ...

Việc nhà làm luật xây dựng khái niệm “của hối lộ” bao gồm những dạng “lợi ích vật chất khác” cũng như việc những đối tượng này được đưa và nhận dưới bất kỳ hình thức nào đã cho thấy tính bao quát trong quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Như vậy, “của hối lộ” được sử dụng để phạm tội trên thực tế dù được ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào cũng có cơ sở pháp lý để bị phát hiện và xử lý hình sự sự.

Của hối lộ” còn có thể là các lợi ích phi vật chất, tức là những lợi ích tuy không có tính hữu hình và quy giá trị thành tiền nhưng có khả năng đem lại sự hài lòng, sự thỏa mãn cho người nhận. Do đó, có khả năng gây ảnh hưởng đến hoạt động thực thi công vụ của người có chức vụ, quyền hạn.

Ví dụ: việc khen ngợi trên phương tiện truyền thông; việc quan hệ tình dục; tặng huân huy chương cho người thân; ...

Do đó, hành vi trao và nhận những lợi ích này bị xem là phạm tội nhận hối lộ.

Một nội dung khác liên quan đến việc xác định dấu hiệu pháp lý trong mặt khách quan của tội nhận hối lộ là vấn đề ai có thể được lợi từ “của hối lộ”.

Điều 354 quy định “của hối lộ” có thể đem lại lợi ích cho một người khác hoặc tổ chức khác mà không nhất thiết phải chính là người có chức vụ, quyền hạn.

Bên thứ ba được thụ hưởng “của hối lộ” có thể là bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào. Thực tiễn cho thấy đó thường là người thân, người quen biết của người có chức vụ, quyền hạn. Thậm chí đối với trường hợp người có chức vụ, quyền hạn yêu cầu “của hối lộ” được sử dụng vào những mục đích nhân đạo.

Ví dụ: tặng cho một cơ sở chăm sóc người tàn tật hoặc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa.

Hành vi vẫn cấu thành tội nhận hối lộ nếu người đó chấp nhận đổi lấy việc sử dụng chức vụ, quyền hạn để làm hay không làm theo yêu cầu của người đưa lợi ích.

Các hành vi phạm tội về hối lộ đều tác động đến hoạt động thực thi công vụ của người có chức vụ, quyền hạn để người này làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Pháp luật Hình sự Việt Nam không đòi hỏi việc làm hoặc không làm này phải là hành vi trái pháp luật. Tuy điều luật không quy định trực tiếp, nhưng quan điểm được thừa nhận chung cũng như thực tiễn xét xử cho thấy: hành vi của người có chức vụ, quyền hạn nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để làm hoặc không làm một việc hợp pháp hoặc một việc đúng với chức năng, quyền hạn của người đó vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ vẫn bị coi là tội phạm.

Ví dụ:

- Hành vi của cán bộ công an làm việc tại cửa khẩu sân bay nhận tiền để đóng dấu vào giấy tờ nhập cảnh đã có thủ tục theo yêu cầu;

- Hành vi nhận tiền để cấp cứu Bệnh nhân của bác sĩ trực cấp cứu.

Hành vi làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ nêu trên mặc dù không trái pháp luật xong vẫn làm giảm uy tín của các cơ quan công quyền và do đó vẫn gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức.

Nếu nhận hối lộ để làm hoặc không làm một việc mà hành vi đó có đủ dấu hiệu cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ và tội phạm độc lập kia.

Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận lợi ích vật chất trái pháp luật cấu thành tội nhận hối lộ khi giá trị “của hối lộ” từ 2 triệu đồng trở lên.

Ngoài ra, hành vi nêu trên có thể cấu thành tội phạm khi “của hối lộ” dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong hai trường hợp:

- Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm

- Đã bị kết án về một trong các tội tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Đối với trường hợp “của hối lộ” là lợi ích phi vật chất, hành vi luôn cấu thành tội phạm không tính đến giá trị “của hối lộ”.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội phạm này.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp và động cơ của người phạm tội là động cơ vụ lợi.

Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 4 khung hình phạt:

Khung 1: Khung cơ bản có mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm áp dụng cho trường hợp được cấu thành cơ bản phản ánh.

Cần chú ý là định lượng về “của hối lộ” đã có sự thay đổi trong Bộ luật Hình sự năm 1999 khung hình phạt này áp dụng đối với trường hợp “của hối lộ” có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng; Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khung hình phạt này đối với trường hợp “của hối lộ” có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; mức tối đa đã tăng lên 10 lần.

Khung 2: Khung tăng nặng có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng sau đây:

- Phạm tội có tổ chức là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn cấu kết chặt chẽ với người khác trong việc phạm tội nhận hối lộ;

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là trường hợp người phạm tội nhận hối lộ để làm một việc vượt ra ngoài phạm vi quyền hạn của mình;

- Phạm tội 2 lần trở lên là trường hợp nhận hối lộ từ 2 lần trở lên một cách độc lập và mỗi lần như vậy đều cấu thành tội nhận hối lộ mà chưa bị kết án về lần nào.

- Biết rõ “của hối lộ” là tài sản của Nhà nước là trường hợp người nhận hối lộ biết rõ “của hối lộ” là tài sản của cơ quan, tổ chức xã hội, hợp tác xã, doanh nghiệp Nhà nước và họ nhận thức được tính chất sở hữu của tài sản dùng vào hối lộ là tài sản của Nhà nước.

- Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt là trường hợp người phạm tội chủ động đòi hỏi yêu cầu, đề nghị, ép buộc, dọa dẫm người khác để họ đưa hối lộ cho mình;

- “Của hối lộ” có giá trị từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

- Gây hậu quả thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng, đây là tình tiết mới, thay thế cho tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng khác” trong Bộ luật Hình sự năm 1999.

Khung 3: Khung tăng nặng có mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm được áp dụng khi có một trong những tình tiết tăng nặng sau đây:

- “Của hối lộ”  có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng;

- Gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng, đây là tình tiết mới được quy định thay thế cho tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng khác” trong Bộ luật Hình sự năm 1999.

Khung 4: Khung tăng nặng có mức phạt tù 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình được áp dụng khi có một trong những tình tiết tăng nặng sau đây:

- “Của hối lộ” có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên;

- Gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên, tình tiết này thay thế cho tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng khác” trong Bộ luật Hình sự năm 1999.

Hình phạt bổ sung: người phạm tội nhận hối lộ còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm, có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng,  tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015.