(Tiếng Anh gọi là “Death penalty” hay là “Capital punishment”)

(Tiếng Pháp gọi là “Peine de mort” hay là “Peine capitale”)

(Tiếng Đức gọi là “Todesstrafe”)

Hiện nay trên thế giới có 94/193 quốc gia là thành viên của Liên Hiệp Quốc vẫn còn duy trì hình phạt tử hình. Trong đó, có 7 quốc gia chỉ xử tử hình trong các trường hợp đặc biệt (tội phản quốcthảm sát hàng loạt...): KazakhstanIsraelEl SalvadorBrazilChilePeru và Fiji. Nhiều quốc gia trong số này trong một khoảng thời gian khá lâu chưa có một vụ xử tử hình nào được thi hành, như: Hàn QuốcNhật BảnIsrael... Quốc gia có số vụ tử hình đứng đầu thế giới là Trung QuốcHoa Kỳ... Trong đó, có 11 quốc gia vẫn tồn tại hình phạt treo cổ song song với xử bắnMalaysiaSingaporeJapanẤn ĐộPakistanIranIraqLebanonIsraelJordan và Ai Cập. Có 6 quốc gia áp dụng hình thức tiêm thuốc độc thay cho xử bắn: Việt NamThái LanTrung QuốcĐài Loan (không phải thành viên của Liên Hiệp Quốc), Hoa Kỳ và Guatemala. Một số bang tại Hoa Kỳ cho tù nhân được chọn giữa hai hình thức tử hình: ghế điện hay tiêm thuốc độc.

Trong hầu hết các quốc gia có án tử hình, nó chỉ được dùng cho tội giết người và tội liên quan đến chiến tranh. Trong một số quốc gia khác, như Cộng hòa Nhân dân Trung HoaIndonesiaMalaysiaSingaporeẢ Rập Saudi và Việt Nam, nó còn được áp dụng cho các tội bất bạo động như buôn lậu ma túy và tham nhũng.

Hiện nay, tại Việt Nam Nghị định 82, có hiệu lực từ ngày 1/11/2011, bãi bỏ hình thức xử bắn mà thay bằng tiêm thuốc độc. Tuy nhiên nghị định này quy định rõ ba loại thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình, nhưng đều là thuốc mà Việt Nam chưa sản xuất được. Các nước phương Tây lại từ chối bán thuốc độc cho Việt Nam khi biết mục đích là để thi hành án tử hình. Vì vậy, Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo sửa đổi để có cơ sở pháp lý cho việc tự sản xuất thuốc độc. Tại Việt Nam, án tử hình chỉ áp dụng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, gồm: Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội giết người, tội hiếp dâm, tội phạm về ma túy, tội tham nhũng và tội ác chiến tranh. Nếu được ân giảm thì chuyển thành tù không thời hạn (chung thân).

 

Với tư cách là một hình phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những đặc điểm riêng, đó là:

Thứ nhất, tử hình là một loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, nó tước đi quyền sống của người bị kết án, vì thế nó chỉ được quy định áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội mới một cách triệt để từ phía người bị kết án. Hình phạt này không có mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án, như vậy nó tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ.

Thứ ba, hình phạt tử hình đồng thời có khả năng đạt được nhiều hiệu quả cao trong phòng ngừa chung.

Thứ tư, hình phạt tử hình có tính chất không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư pháp.

Vậy, hình phạt tử hình có vi phạm quy định về quyền sống được ghi nhận trong Luật quốc tế về quyền con người và đi ngược lại với xu hướng tiến bộ trên thế giới hay không?

Điều 3 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (UDHR) đề cập đến quyền sống là quyền đầu tiên và cơ bản nhất của con người.

Khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966) đã cụ thể hóa quyền này; thừa nhận mọi người đều có quyền được sống và được pháp luật bảo vệ, không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện.

Khoản 2 Điều này cũng quy định: "Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ được phép áp dụng hình phạt này đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện và không được trái với những quy định của Công ước này…".

Như vậy, mặc dù ghi nhận quyền sống là một trong những quyền cơ bản của tất cả mọi người, pháp luật quốc tế không cấm áp dụng hình phạt tử hình. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt này ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy theo quan điểm về "tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" của mỗi quốc gia.

Các quốc gia hủy bỏ án tử hình cho rằng tác dụng của hình phạt này với việc ngăn chặn tội phạm cũng giống như các loại hình phạt khác.

Các cuộc khảo sát do Liên Hợp quốc thực hiện (năm 1988, 1996 và 2002) về mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và tỷ lệ phạm tội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã kết luận rằng: "Không tìm thấy những chứng cứ khoa học cho thấy việc thi hành án tử hình có tác dụng ngăn chặn tội phạm tốt hơn so với việc áp dụng hình phạt tù chung thân v.v..".

Công trình nghiên cứu nổi tiếng nhất chứng minh hình phạt tử hình không có tác dụng vượt trội trong ngăn chặn tội phạm là của nhà tội phạm học Thorsten Sellin, công bố vào năm 1959. Trong công trình này, ông khẳng định: Hình phạt tử hình không có tác dụng ngăn chặn tội phạm hơn so với hình phạt tù chung thân. Ông cho rằng những kẻ phạm tội rất ít khi suy tính về hậu quả có thể phải gánh chịu trước khi thực hiện hành vi phạm tội, thậm chí còn tin rằng họ sẽ không bị bắt.

Do vậy, niềm tin về tác dụng đặc biệt trong việc răn đe tội phạm của hình phạt tử hình chủ yếu dựa trên sự suy đoán.

Ngoài ra, nhiều nhà tội phạm học khác cũng cho rằng lập luận về tác dụng vượt trội trong phòng ngừa tội phạm của hình phạt tử hình còn mang nặng cảm tính và động cơ chính trị.

Những người phản đối hình phạt tử hình cũng cho rằng, sử dụng sự hành quyết để đáp trả hành động giết người là một sự trả thù và lặp lại hành động của kẻ phạm tội là không phù hợp với xã hội văn minh. Thêm vào đó, do hệ thống tư pháp hình sự không hoàn thiện nên luôn tồn tại nguy cơ kết án oan người vô tội và sai lầm này không thể khắc phục được nếu đã thi hành án.

Tuy nhiên, những nước duy trì hình phạt tử hình vẫn giữ nguyên quan điểm cho rằng hình phạt này là biện pháp có hiệu quả răn đe đặc biệt, không thể thay thế trong việc ngăn ngừa tội giết người cũng như nhiều loại tội phạm khác. Điển hình nhất là phương châm phòng, chống tội phạm của người Trung Quốc "sát nhất nhân, vạn nhân cụ" (giết một người để răn đe vạn người khác - Theo quan điểm này, cần áp dụng hình phạt tử hình cho những kẻ phạm tội ác nghiêm trọng như giết người để giúp những người khác nhận thức rõ đó là hành động sai trái sẽ mang lại những hậu quả thảm khốc cho kẻ phạm tội, từ đó ngăn ngừa người khác phạm tội ác tương tự)…

Trên thực tế, đã có một số nghiên cứu đưa ra những số liệu thống kê ủng hộ tác dụng ngăn chặn vượt trội của hình phạt tử hình với tội giết người. Ví dụ, ở Anh, theo số liệu của Bộ Nội vụ nước này, tỷ lệ tội phạm giết người tăng lên gấp đôi kể từ khi hình phạt tử hình bị xóa bỏ. Ở Hoa Kỳ, từ năm 1993-1997, khi số bản án tử hình được tuyên và thi hành tăng thì tỷ lệ tội phạm giết người giảm 26%. Trong khi đó, những kẻ phạm các tội ác nghiêm trọng là những đối tượng rất nguy hiểm cho xã hội, khả năng tái phạm rất cao, nếu không sử dụng hình phạt tử hình thì xã hội vẫn còn nguy cơ bị đe dọa nếu họ vượt ngục thành công hoặc được phóng thích. Việc tước bỏ tính mạng của những kẻ phạm các tội ác nghiêm trọng là phù hợp với công lý "lấy mạng đền mạng" và cũng nhân đạo hơn so với hình phạt tù chung thân. Việc bị giam cầm cả đời hoặc một thời gian dài trong tù với những điều kiện sinh hoạt, quản chế khắc nghiệt và sự dằn vặt lương tâm đôi khi còn gây đau khổ cho kẻ phạm tội nhiều hơn so với việc bị kết án tử hình.

Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng, cho đến khi nào còn được sống, cho dù bị kết án tù chung thân, một người tù vẫn còn có hy vọng được tái hòa nhập cộng đồng, được giảm án, ân xá hay được giải tội. Việc thi hành án tử hình sẽ triệt tiêu những cơ hội này của họ. Thêm vào đó, hình phạt tử hình không chỉ gây đau đớn cho phạm nhân về thể chất khi bị hành quyết, mà còn khiến họ bị khủng hoảng tinh thần vô cùng nặng nề trong thời gian chờ đợi thi hành án. Bởi vậy, không thể nói là so với hình phạt tù chung thân, hình phạt tử hình có tính nhân đạo hơn. Trong khi còn nhiều tranh cãi về tính nhân đạo của hình phạt này so với tù chung thân thì có ý kiến cho rằng cần phải so sánh chi phí của hai loại hình phạt này. "Từ chối xem xét tác động của hình phạt tù chung thân không được ân giảm có nghĩa là ủng hộ hoặc khuyến khích một đạo luật mà buộc 25 người phải làm việc suốt đời ở nhà tù chỉ để bảo đảm là một người không bị hành quyết. Đây chính là tính thiếu thuyết phục trong quan điểm của những người phản đối hình phạt tử hình”.

Ở Việt Nam, trong tương lai, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ý thức chấp hành pháp luật của người dân được nâng cao thì việc thu hẹp dần phạm vi áp dụng tiến tới loại bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình ra khỏi đời sống xã hội là một xu hướng tất yếu. Mặc dù vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc xóa bỏ hình phạt tử hình tại Việt Nam là vấn đề cần cân nhắc kỹ lưỡng trong bối cảnh diễn biến phức tạo của tình hình tội phạm, đặc biệt là những dạng tội phạm đặc biệt nguy hiểm như giết người, tội phạm ma túy... Điều này không chỉ đặt gánh nặng và gây sức ép với các cơ quan nhà nước trong việc phải tìm ra các biện pháp ngăn chặn tội phạm hiệu quả mà còn tác động đến tâm lý người dân trong việc ủng hộ việc áp dụng những hình phạt nghiêm khắc đối với tội phạm.

*********

Với đặc tính là hình phạt nghiêm khắc nhất, tử hình được áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, không còn khả năng giáo dục cải tạo và việc loại bỏ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội là cần thiết.

Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhanh chóng xem xét, nghiên cứu, xác định có sai lầm, thiếu sót nào xảy ra trong quá trình xét xử hay không? Có cần phải kháng nghị bản án theo trình tự giám đốc thẩm hay tái thẩm hay không?

Đối với bản án tử hình, trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Việc ra quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hoặc ra quyết định không kháng nghị theo một trong những thủ tục đó của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là bắt buộc không tùy thuộc vào việc người bị kết án có viết đơn hay không viết đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước.

Trường hợp, người bị kết án đã viết đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước, nhưng xét thấy việc xét xử không chính xác, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Sau khi đã ra quyết định kháng nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải báo cáo với Chủ tịch nước để Chủ tịch nước không tiến hành thủ tục xét đơn xin ân giảm của người bị kết án.

Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Trong mọi trường hợp, nếu người bị kết án tử hình có đơn xin ân giảm thì đơn đó phải được chuyển cho Chủ tịch nước để xem xét.

Theo điều 29 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì khi có đơn xin ân giảm của người bị kết án tử hình, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải trình lên Chủ tịch nước ý kiến của mình về đơn xin ân giảm của người đó.

Tùy từng trường hợp cụ thể, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể đề nghị với Chủ tịch nước ân giảm hay bác đơn xin ân giảm của người bị kết án tử hình. Cần lưu ý rằng: Kèm theo hồ sơ gửi Chủ tịch nước phải có quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Quyết định của Viện tưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc không kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cũng phải được gửi cho Chủ tịch nước.

Chưa có quy định về thời hạn cụ thể xét đơn xin ân giảm của người bị kết án tử hình.

Do vậy, trong trường hợp người bị kết án tử hình xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.

Đối với các trường hợp không có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc hoặc tái thẩm.

*********

 

Soạn và đăng bởi Luật sư Nguyễn Thị Thoa