1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều:

·    168. Tội cướp tài sản;

·    169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản;

·    170. Tội cưỡng đoạt tài sản;

·    171. Tội cướp giật tài sản;

·    172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;

·    174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;

·    175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;

·    290. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách lén lút. Lén lút được hiểu là cách thức tiến hành việc chiếm đoạt tài sản nhằm không cho chủ quản lý tài sản biết có việc chiếm đoạt xảy ra. Người phạm tội thực hiện hành vi cũng mong muốn che giấu hành vi chiếm đoạt. Việc che giấu này thường là che giấu cả về hình thứctính chất bất hợp pháp của hành vi, nhưng cũng có trường hợp chỉ cần che giấu tính chất bất hợp pháp của hành vi, cũng được coi là hành vi chiếm đoạt có tính chất lén lút. Hành vi trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản đang có người khác quản lý. Những tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý của Chủ sở hữu hay người quản lý hợp pháp thì không được coi là đối tượng chiếm đoạt của hành vi trộm cắp.

Ví dụ: tài sản thất lạc, tài sản bị bỏ quên, đánh rơi, … không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.

Tội trộm cắp tài sản hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản. Tùy vào loại tài sản và vị trí để tài sản mà thời điểm chiếm đoạt được tài sản có thể được xác định khác nhau với từng trường hợp cụ thể.

Ví dụ: tài sản lớn, cồng kềnh và có ranh giới bảo vệ rõ ràng thì coi là chiếm đoạt được khi người phạm tội mang được tài sản đó ra khỏi ranh giới của khu vực quản lý bảo vệ mà Chủ tài sản quản lý.

Di vật có thể hiểu là những vật tuy giá trị về mặt tài sản vật chất là không lớn, thậm trí không có giá trị lưu thông trên thị trường nhưng có giá trị lớn về mặt tinh thần đối với Chủ sở hữu.

Theo khoản 5 điều 4 Luật di sản văn hóa năm 2001: “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.”

Ví dụ: chiếc xe đạp vận tải hàng của Liệt sỹ thời chống Pháp được lưu lại gia đình, hay các kỷ vật của dòng tộc họ hàng v.v … được truyền lại nhiều đời đến nay.

Chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3 và 4 điều này là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 điều này.

Tội trộm cắp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép và mong muốn hậu quả xảy ra. Mục đích của tội phạm và chiếm đoạt tài sản của người khác.

Điểm d Khoản 2 của điều luật nêu hành vi Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm là việc sử dụng phương pháp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có tính chất tinh vi, gian dối cao làm cho mọi người dễ nhầm và không cho rằng đó là hành vi trộm cắp tài sản. Phạm tội dùng thủ đoạn nguy hiểm là dùng thủ đoạn trộm cắp tài sản nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại hoặc của người khác.

Điểm e Khoản 2 của điều luật đề cập trộm cắp tài sản là bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. (Điều 4 Luật Di dản văn hóa).